Thế giới động vật trong Phật pháp: Phong phú, bình đẳng và thú vị
Trong Phật giáo, động vật cũng giống như con người, đều là những sinh mệnh độc lập và tự chủ. Chúng cũng bị trói buộc bởi nhân duyên và nghiệp lực, nhưng đồng thời cũng có thể thông qua tu hành để chứng được trí tuệ giải thoát.
Trên thực tế, trong các tiền kiếp, Đức Phật đã từng thị hiện dưới thân hình động vật để thực hành Bồ-tát hạnh, cứu độ chúng sinh.
Sau khi thành đạo, các chư Phật và Bồ-tát vì muốn cứu độ chúng sinh cũng thường thị hiện thành động vật để dẫn dắt chúng sinh tu hành chứng quả. Trong kinh Pháp Hoa - Phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát, Bồ-tát Phổ Hiền có nói: Nếu ai có thể nhất tâm tinh tấn, tu trì đúng pháp, Người sẽ cưỡi voi trắng sáu ngà hiện ra trước mặt để trực tiếp thuyết pháp và thường xuyên bảo hộ người đó.
Dù là mang ý nghĩa ẩn dụ một đạo lý nào đó, tượng trưng cho công đức của chư Phật Bồ-tát, hay là những câu chuyện trong kinh Phật, thế giới động vật trong Phật pháp luôn phong phú, bình đẳng và đầy thú vị.
Ý nghĩa của hình tượng "Bò" trong Phật pháp
Bò có vị trí rất cao trong Phật giáo, được xem là loài động vật cao quý và mang uy nghi.
Xưng tụng Như Lai là "Ngưu Vương": Trong tám mươi tướng tốt của Như Lai, có một tướng gọi là "Hành bộ an bình, do như ngưu vương" (Dáng đi bình an, thong dong như vua bò).
"Ngưu nhãn tiệp tướng": Nghĩa là lông mi của Đức Phật dài, mịn và mượt, đẹp như lông mi của bò.
"Nhân Trung Ngưu Vương": Trong các đức hiệu của Đức Phật, danh hiệu này được dùng để tán thán đức hạnh rộng lớn vô biên của Người, giống như vị vua bò mang đại lực. Quyển 82 sách Dục Già Sư Địa Luận có ghi chép: Như Lai có khả năng điều phục đại chúng, nên gọi là "Nhân Trung Ngưu Vương".
Dùng bò để ví với Tâm trong Thiền tông: Thiền tông dùng bò để tượng trưng cho tâm tính của chúng sinh. Bộ tranh Thập Mục Ngưu Đồ lấy chủ đề chăn bò để đại diện cho 10 cảnh giới tu hành: Tìm bò (Tầm ngưu), Thấy dấu (Kiến tích), Thấy bò (Kiến ngưu), Bắt bò (Đắc ngưu), Chăn bò (Mục ngưu), Cưỡi bò về nhà (Kỵ ngưu quy gia), Quên bò còn người (Vong ngưu tồn nhân), Cả người và bò đều quên (Nhân ngưu câu vong), Trở về nguồn cội (Phản bản hoàn nguyên), Vào chợ buông tay (Nhập triền thùy thủ).
Trong kinh Pháp Hoa: Dùng cỗ xe bò (ngưu xa) để ví với Bồ-tát thừa, và cỗ xe đại bạch ngưu (xe bò trắng lớn) để ví với Duy Nhất Phật Thừa, tức là Diệu Pháp Đại Thừa.
Các từ vựng và điển cố liên quan trong Phật giáo
1. Ngưu bì long tu (Da bò râu rồng)
Da bò phơi nắng thì càng co rút lại; râu rồng buộc người thả xuống nước thì càng thêm đau đớn.
Ý nghĩa: Ví với phước báo hữu lậu của cõi người và cõi trời có thể làm tổn hại đến pháp thân huệ mạng. Cũng ví như danh văn lợi dưỡng làm tổn hại đến Giới - Định - Tuệ.
2. Kỵ ngưu tìm ngưu (Cưỡi bò tìm bò)
Thuật ngữ Thiền tông. Thiền tông so sánh những người hướng ra bên ngoài để tìm Phật giống như đang "cưỡi bò mà lại đi tìm bò".
Theo "Cảnh Đức Truyền Đăng Lục" (quyển 9): Thiền sư Đại An từng đến tham vấn Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải: "Người tu học Phật pháp nên tìm Phật, làm Phật như thế nào?" Bách Trượng đáp: "Người học Phật mà chấp trước vào việc tìm Phật làm Phật thì giống như cưỡi bò tìm bò." Đại An hỏi tiếp: "Nếu nhận thức được điều này rồi thì sao?" Bách Trượng nói: "Giống như cưỡi bò về nhà."
3. Ngưu lư nhị nhũ (Sữa bò và sữa lừa)
Sách Đại Trí Độ Luận (quyển 18) viết: Sữa bò và sữa lừa tuy màu sắc giống nhau, nhưng sữa bò đánh lên thì thành vón cục tươi ngon (bơ/phô mai), còn sữa lừa đánh lên thì thành phân.
Ý nghĩa: Phật pháp và ngoại đạo tuy đều nói về không sát sinh, không trộm cắp, từ mẫn chúng sinh, lìa dục quán không (lìa ham muốn, quán chiếu tính Không)... "Tuy nhiên lời của ngoại đạo ban đầu nghe có vẻ vi diệu, nhưng đến tận cùng thì lại là hư vọng, dối trá", vì đều vướng vào Ngã kiến, không giống như Phật pháp chân thực không hư dối.
4. Ngưu Đầu A-bàng (Quỷ đầu bò)
Trong kinh Phật có ghi chép hình tượng một quỷ tộc nổi tiếng tên là "Ngưu Đầu A-bàng". Hình tượng quỷ sĩ này có đầu bò, tay người, hai chân là móng bò, sức mạnh vô song, có khả năng dời sơn lấp biển, ở địa ngục chuyên phụ trách việc nuốt chửng kẻ có tội.
5. Ngưu Đầu Chiên-đàn (Trầm hương Đầu Bò)
Một loại cây đàn hương ở Tây Vực. Kinh Chính Pháp Niệm Xứ ghi: "Cõi này có ngọn núi tên là Cao Sơn, trên đỉnh núi có nhiều Ngưu Đầu Chiên-đàn. Vì đỉnh núi này có hình dáng như đầu bò, lại sinh ra cây chiên-đàn trên đỉnh nên gọi là Ngưu Đầu."
Ngưu Đầu Chiên-đàn là loại hương thơm nhất trong các loại chiên-đàn, lại bền lâu không mục nát, nên từ xưa thường dùng để tạc tượng Phật, dựng điện đường, làm dụng cụ... Dạng bột dùng trong y học, còn tinh dầu dùng làm hương liệu. Trong Phật giáo, đây không chỉ là loại hương thoa thù thắng mà còn là nguyên liệu vô cùng quý giá (như cửa thành Thiện Kiến ở cõi trời Đao Lợi được làm bằng gỗ Ngưu Đầu Chiên-đàn, tỏa hương thơm ngát).
6. Lộ địa bạch ngưu (Bò trắng ngoài đồng trống)
Thiền tông dùng cụm từ này để chỉ cảnh giới ngộ đạo: chứng ngộ rốt ráo, thể đạt được sự thanh tịnh tự tại. "Lộ địa" (đất trống) chỉ khoảng đất trống ngoài cửa, ví như nơi bình an vô sự.
Đây cũng là một công án Thiền tông nổi tiếng: Thiền sư Bắc Thiền Trí Hiển vào đêm Trừ tịch (giao thừa) từng khai thị cho đại chúng: "Năm hết tết đến, chẳng có gì để chia sẻ cùng chư vị, chi bằng làm thịt một con bò trắng ngoài đồng trống (lộ địa bạch ngưu), nấu cơm nếp, nấu canh rau dại, vây quanh bếp lửa sưởi ấm mà hát khúc ca quê. Vì sao ư? Để khỏi phải nhìn cảnh dựa cửa, tựa tường nhà người khác!"
Trong đoạn trên, "bò trắng ngoài đồng trống" ví với Thanh Tịnh Pháp Thân. Việc "mổ thịt bò trắng, nấu cơm nếp, nấu canh rau" biểu thị phá vỡ mọi cảnh giới, Nhân - Pháp đều tiêu tan để tránh rơi vào cảnh giới chấp trước.
Trong kinh Pháp Hoa (Phẩm Thí Dụ), bò trắng ví cho giáo pháp Nhất Thừa, từ đó chỉ cảnh giới thanh tịnh không chút phiền não ô nhiễm.
Cổ đức từng nói (Thung Dung Lục - Quyển 12): "Nhà nạp tăng chúng ta nhác nhìn bò trắng ngoài đồng."
7. Nê ngưu nhập hải (Bò đất xuống biển)
Thuật ngữ Thiền tông, ví với việc tuyệt bặt dấu vết, bặt tin tức, tức là "một đi không trở lại".
Từ "bò đất" (nê ngưu) ví cho tác dụng suy tư, phân biệt trong tâm. Bò bằng đất rơi xuống biển lớn sẽ tan chảy hoàn toàn, mất đi hình dáng ban đầu. Do đó, cụm từ này dùng để ví cho chủ thể quan sát (Cái Tôi) và đối tượng quan sát (Muôn Pháp) hòa quyện vào nhau, không còn sự phân biệt.
Sách "Cảnh Đức Truyền Đăng Lục" (Quyển 8 - Chương Động Sơn Hòa Thượng): Động Sơn hỏi Hòa thượng Long Sơn: "Ngài thấy đạo lý gì mà lại vào núi này?" Hòa thượng đáp: "Ta thấy hai con bò đất đi xuống biển, đến nay vẫn chưa có tin tức gì."
8. Ly ngưu ái vĩ (Bò Tót tiếc đuôi)
"Ly ngưu" tức là loài bò tót/bò Tây Tạng, rất quý mến chiếc đuôi dài của mình. Kinh Pháp Hoa (Phẩm Phương Tiện) viết: "Đắm nhiễm sâu nặng, như bò tót tiếc đuôi."
Ý nghĩa: Ví với chúng sinh tham đắm vào ngũ dục: Tài (tiền tài), Sắc (sắc đẹp), Danh (danh vọng), Thực (ăn uống), Thùy (ngủ nghỉ)


.jpg)
Post A Comment:
0 comments so far,add yours