Mỗi khi bước vào cửa chùa, đặc biệt là khi tiến vào chính điện, chúng ta thường thấy những người xung quanh hành lễ chắp tay. Bản thân ta cũng vô thức chắp tay theo, và tâm hồn nhờ đó mà trở nên thanh tịnh hơn một chút.
Chắp tay là nghi thức kính lễ đơn giản nhất trong Phật giáo, rất dễ thực hiện, đồng thời cũng biểu lộ trọn vẹn lòng thành kính. Phàm là đệ tử Phật, dù là hướng về chư Phật Bồ Tát hay khi gặp gỡ bất kỳ ai trong chùa, chúng ta đều có thể dùng hành động chắp tay để bày tỏ sự thăm hỏi, kính chào.
Khi chắp tay, hai bàn tay đặt trước ngực, lòng bàn tay khép vào nhau, mười ngón tay áp sát hướng thẳng lên trên, vững chãi tựa như ngọn bảo tháp, tránh để ngả về phía trước hoặc chúc xuống dưới. Chắp tay xong, quý vị có thể hạ tay xuống, hoặc giữ nguyên tư thế chắp tay ấy để biểu thị lòng cung kính của mình.
Đời thường, chúng ta có thể mượn hình thức chắp tay để quán chiếu những đạo lý Phật pháp. Chẳng hạn, tay phải vốn linh hoạt hơn nên được dùng để tượng trưng cho trí tuệ, còn tay trái tượng trưng cho thiền định; hai tay chắp lại biểu thị rằng khi học Phật pháp, chúng ta phải tu tập song tu định - tuệ, kết hợp nhịp nhàng giữa chỉ và quán. Hoặc việc chắp hai tay cũng biểu thị việc tu hành cần phải song tu phước huệ, giải hành song tiến, v.v.
Hoặc giả, chúng ta có thể dùng mười ngón tay để quán chiếu mười pháp giới: Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn là tứ thánh pháp giới; Thiên, Nhân, A-tu-la, Súc sinh, Ngạ quỷ, Địa ngục là lục phàm pháp giới; lục phàm và tứ thánh cộng lại thành thập pháp giới. Thế còn hành động chắp tay? Nó biểu thị mười pháp giới này quy về một, đồng quy về một tâm thức. Từ đó, ta thấu hiểu được đạo lý thường nghe: "Tất cả chúng sinh đều có Phật tính", "Phàm là ai có tâm, nhất định sẽ thành Phật".
Tâm tính vốn sẵn đủ ở mỗi người, ai ai cũng có ấy, cùng với đức tính quang minh bình đẳng không hai của chư Phật Bồ Tát, nay được hiển lộ ngay trong chính khoảnh khắc chắp tay – lúc mười pháp giới quy về một. Tâm tính của một niệm này không phải do trời cao tạo dựng, chẳng phải vô cớ sinh ra, cũng không phải cha mẹ sinh ra thì có, không sinh thì mất, mà nó vốn sẵn có từ muôn thuở, còn được gọi là tự tính.
Chúng ta nương vào nhân duyên của cha mẹ và nhân duyên của chính mình để chào đời, cho đến ngũ quan, tứ chi, oai nghi, âm giọng cùng các loại chánh báo khác, rồi thế giới, tài vật và các loại y báo... thảy đều là nhân duyên quả báo. Chúng không phải do trời cao tạo tác, cũng chẳng phải do ý muốn của cha mẹ mà muốn sao được vậy. Mọi nhân duyên quả báo trong thập pháp giới khi quy về một chính là tự tính, cũng gọi là tâm tính. Tâm tính này bình đẳng với chư Phật, đồng thời cũng bình đẳng vô sai biệt với tất cả chúng sinh. Đây chính là ý nghĩa của câu: "Tâm, Phật và chúng sinh, cả ba không sai biệt".
Thế nhưng, chúng ta vì vô minh vọng tưởng của kẻ phàm phu, chấp trước vào các tướng của thập pháp giới nên không thể khế hợp với tâm thanh tịnh vốn sẵn có, điều đó nghĩa là "trái giác hợp trần". Đã vậy, sự chấp trước đối với ngũ dục lục trần lại càng lúc càng sâu dày, càng chấp trước thì lại càng xa cách bản tâm. Nay nương vào pháp âm của Phật, chúng ta đã tường tận về tâm thanh tịnh vốn có của chính mình, bèn phải dốc lòng tu tập, bước đi trên con đường "trái trần hợp giác", và điểm khởi đầu có thể bắt đầu ngay từ việc chắp tay.
Bất luận là chắp tay tụng kinh, chắp tay niệm Phật, hay chắp tay lễ Phật, chúng ta đều phải dùng trọn tấm lòng chí thành để cung kính hành trì. Mượn hình thức lễ nghi bên ngoài để biểu lộ sự tôn kính từ nội tâm, không chỉ bày tỏ lòng cung kính cùng sự quy y Tam Bảo thâm thiết, mà còn dùng phương pháp này để nhiếp thọ thân tâm, giữ cho thân tâm không phóng dật. Lâu dần, tự nhiên sẽ tương ưng với chư Phật Bồ Tát, tương ưng với tâm tính bình đẳng không hai vốn sẵn có của chính mình.
Hành động chắp tay (hiệp chưởng / hợp chưởng) không chỉ giới hạn trong Phật giáo mà còn là một nét văn hóa truyền thống, biểu trưng cho sự cung kính, hòa bình, bình đẳng và chào hỏi có từ ngàn đời tại nhiều quốc gia châu Á, đặc biệt chịu ảnh hưởng sâu sắc từ nền văn minh Ấn Độ cổ đại.
Các quốc gia và nền văn hóa tiêu biểu thực hành nét văn hóa này bao gồm:
* Ấn Độ (Namaste / Namaskar): Là cái nôi của cử chỉ này. Người Ấn Độ dùng câu nói "Namaste" đi kèm động tác chắp hai tay trước ngực để chào hỏi, thể hiện lòng tôn trọng sâu sắc đối với linh tính bên trong của người đối diện (coi thần tính trong mình chào thần tính trong người).
Trong các nghi lễ tôn giáo của đạo Bà-la-môn và xã hội Ấn Độ cổ, việc chắp hai bàn tay lại (đôi khi gọi là Brahmāñjali trong các nghi thức hiến tế hoặc cầu nguyện) là cử chỉ cơ bản để dâng cúng thần linh, thể hiện lòng tôn kính tuyệt đối trước các đấng tối cao, các vị thần, đạo sư hoặc người bề trên. Trong triết học Ấn Độ giáo, hành động này còn mang ý nghĩa tượng trưng cho sự hòa hợp giữa tiểu ngã (con người) và đại ngã (thần linh/Brahman).
Khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đản sinh và hoằng hóa tại Ấn Độ, Phật giáo đã tiếp thu và sử dụng lại nhiều nét văn hóa, tập quán xã hội sẵn có của người Ấn lúc bấy giờ, trong đó có phép chắp tay chào hỏi và hành lễ.
Dù kế thừa từ nền tảng văn hóa-tôn giáo truyền thống của Ấn Độ (bao gồm cả Bà-la-môn giáo), Phật giáo sau đó đã thổi vào hành động này một hệ thống triết lý rất sâu sắc mang đặc trưng riêng (như tượng trưng cho định và huệ song tu, mười pháp giới quy về một tâm, hay sự bình đẳng giữa tâm - Phật - chúng sinh).
* Thái Lan (Wai - ไหว้): Là một phần cốt lõi trong phép xã giao truyền thống của người Thái. Động tác chắp tay không chỉ dùng để chào mà còn phân chia theo cấp bậc, tuổi tác và địa vị (vị trí đặt tay cao hay thấp tùy thuộc vào người đối diện là người lớn tuổi, tu sĩ hay cấp trên).
* Campuchia (Sampeah - សំពះ): Được xem là quốc lễ trong văn hóa giao tiếp. Người Campuchia chắp tay trước ngực với nhiều mức độ khác nhau tùy theo mức độ tôn kính dành cho cha mẹ, thầy cô, người lớn tuổi hoặc chư tăng.
* Lào (Nop - นบ): Tương tự như Thái Lan và Campuchia, người Lào sử dụng động tác chắp tay kết hợp cúi nhẹ đầu để chào hỏi, thể hiện sự khiêm nhường và tôn trọng lẫn nhau trong đời sống hàng ngày cũng như trong nghi lễ tôn giáo.
* Nhật Bản (Gassho - 合掌): Dù hiện đại hóa, người Nhật vẫn giữ tư thế này trong các nghi thức Phật giáo, khi cầu nguyện, lúc cảm ơn hoặc xin lỗi sâu sắc (ví dụ trước và sau bữa ăn với câu Itadakimasu / Gochisousama, hoặc khi chắp tay cúi chào trong các võ đường, đền chùa).
合掌,作为佛教中最简单的礼敬,做起来很容易,同时也能够表达我们的诚敬之心。凡是佛弟子,无论是诸佛菩萨,或是在寺院中遇到其他人,都可以用合掌来表达问好之意。
合掌时,两手当胸,掌心相并,十指密合向上,就好像宝塔一般矗立,而不要向前或是向下。合掌完毕,即可放下,也可以一直合掌,以表示我们的恭敬之心。
平日里,我们可以借着合掌做一些佛法的思维,比如一般大家都是右手比较灵活,用以代表智慧,左手则可用以表示禅定,那双手合十,则代表了我们学习佛法,要定慧齐修、止观双运。或是用两手合掌表示,我们修行要福慧双修、解行并进等等皆可。
或是,我们可以用十个指头来思维十法界:佛、菩萨、缘觉、声闻,这是四圣法界;天、人、修罗、畜生、恶鬼、地狱,这是六凡法界;六凡四圣法界合起来是十法界。那合掌呢?则可以表示这十法界归一,都归到一心上去。这就要说到我们平常所说的“一切众生皆有佛性”“凡是有心,定当作佛”的道理了。
这个人人本具、个个不无的心性,与诸佛菩萨平等无二的光明德性,就在我们合掌——十法界归一中显现出来了。这一念的心性,不是上天造的,也不是无缘无故生出来的,也不是父母生我们就有、不生就没有,而是我们本来就有的,也叫自性。
我们借着父母的缘和自己的因缘出生,以至于我们的五官、四肢、威仪、声音种种的正报和世界、财物等等的依报……都是因缘果报,既不是上天造的,也不是父母愿意我们怎样就怎样。十法界种种的因缘果报归一就是自性,也叫心性,这和诸佛平等了,和一切众生也是平等平等的,这就是“心佛及众生,是三无差别”的道理。
但是呢,我们凡夫因为无明妄想,执着于十法界的相上去了,而契合不到这个本有的清净心上去,也就是背觉合尘的意思,而且对于五欲六尘越执着越深,越执着离得越远。现在我们借着佛陀说法,知道了自己本有清净心,就要好好修行了,要走背尘合觉的道路,首先就可以从合掌开始。
我们无论是合掌诵经,或是合掌念佛,或是合掌拜佛,都是以至诚之心恭敬而做,假借着外相的礼法而显示我们内心的恭敬,不仅表达内心对于三宝的恭敬、皈依之诚恳,也以此来摄受身心令不放逸,久而久之自然能与诸佛菩萨相应,与我们本有的平等无二的心性相应
每当我们走进寺院,尤其是进入大殿时,常常会看到周围的人行合掌礼,自己在不知不觉中也跟着一起合掌,心里也随之而变得清静了一些。



Post A Comment:
0 comments so far,add yours